Tìm hiểu về pháp luật phá sản ở Nhật Bản

Tìm hiểu về pháp luật phá sản ở Nhật Bản

Ngày 2018-04-12 08:21:34

Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật về phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.

Bài viết này nghiên cứu Luật phá sản của nước Nhật Bản - là quốc gia có tỉ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỉ lệ tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hàng năm cao và đều là thành viên tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Luật Phá sản hiện nay của Nhật Bản có nguồn gốc từ một số luật như Luật thương mại số 48 năm 1899, Luật Phá sản số 48 năm 1900, Luật Tái tổ chức doanh nghiệp số 172 năm 1952, và gần đây nhất là Luật về thỏa hiệp và Bộ Luật Phục hồi dân sự năm 2000. Sau nhiều lần sửa đổi, hệ thống pháp luật này được pháp luật Nhật Bản quy định chung thành 2 thủ tục là thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục phục hồi.

1. Thủ tục thanh lý tài sản

Thủ tục thanh lý tài sản bao gồm: (a) Phá sản; (b) Thanh lý đặc biệt và (c) Thoả hiệp. Theo thủ tục này thì toàn bộ tài sản của công ty được chuyển thành tiền mặt và thanh toán cho các chủ nợ, chấm dứt sự hoạt động cũng như chấm dứt sự tồn tại của công ty.

(a) Phá sản

Là việc thanh lý doanh nghiệp dưới sự giám sát chặt chẽ của Toà án. Quy trình chung của thủ tục này là: Quy trình chung của thủ tục này là: gửi đơn yêu cầu phá sản,Quyết định phá sản của Toà án, Quản lý và bán tài sản của doanh nghiệp, Xác định tổng số nợ và tổng số chủ nợ, Thanh toán khoản nợ và chấm dứt thủ tục phá sản.

Luật Phá sản Nhật Bản còn quy định sự phục quyền. Sự phục quyền được đưa vào Luật năm 1952 dưới ảnh hưởng của luật phá sản Mỹ. Sự phục quyền là hoàn toàn và ngay lập tức khi các điều kiện theo quy định của pháp luật được đáp ứng. Công ty phá sản vào bất cứ lúc nào có thể yêu cầu Toà án ra lệnh phục quyền. Lệnh phục quyền được ban hành sẽ hủy bỏ tất cả các quyền đòi nợ khi đã trả tiền lãi, trừ một số khoản nợ như nợ thuế, các khoản tiền phạt hình sự.

(b) Thủ tục thanh lý đặc biệt

Thủ tục thanh lý đặc biệt hay còn gọi là thủ tục phá sản tự nguyện. Theo thủ tục này, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ gửi đơn cho Toà án và nói rõ sẽ áp dụng thủ tục thanh toán đặc biệt. Doanh nghiệp sẽ triệu tập Đại hội cổ đông, nêu rõ lý do phá sản. Đại hội sẽ tuyên bố giải tán công ty và chọn một người thanh toán tài sản. Người này sẽ thực hiện việc thanh toán tài sản dưới sự giám sát của Toà án (thông qua các báo cáo của họ). Người thanh toán tài sản sẽ chuyển hóa các tài sản thành tiền để thanh toán các khoản nợ, nếu số tiền thu được lớn hơn nợ thì sau khi thanh toán nợ, số tiền còn lại sẽ được chia cho các cổ đông. Nếu nợ lớn hơn số tiền thu được thì người thanh toán tài sản sẽ phải lựa chọn hoặc là tiếp tục thực hiện thủ tục thanh toán đặc biệt hoặc nộp đơn cho Toà án xin áp dụng thủ tục phá sản.

Thủ tục thanh lý đặc biệt chỉ được áp dụng cho loại Công ty cổ phần. Thông thường, doanh nghiệp lựa chọn thủ tục này vì chi phí khi áp dụng thủ tục phá sản là rất cao. Nhưng thực tế thì thủ tục này cũng không được áp dụng nhiều vì phạm vi áp dụng rất hạn hẹp.

(c) Thỏa hiệp

Luật về thỏa hiệp quy định rằng, thủ tục thỏa hiệp được đưa ra theo yêu cầu của công ty phá sản kèm theo một kế hoạch thỏa hiệp. Sau khi yêu cầu thỏa hiệp được đưa ra, Toà án chỉ định một hay nhiều Ủy viên Hội đồng thỏa hiệp. Các Ủy viên Hội đồng này xem xét và đưa ra ý kiến về cơ hội tạo lập thủ tục thỏa hiệp. Toà án xem xét, nếu thấy yêu cầu có thể chấp nhận thì tuyên bố tạo lập thủ tục thỏa hiệp. Mục tiêu của thỏa hiệp là tránh phá sản, phục hồi lại quyền của người mắc nợ. Toà án chỉ định một người quản lý tài sản thỏa hiệp. Người quản lý này có trách nhiệm xem xét thái độ của người mắc nợ và theo dõi quá trình hoạt động của doanh nghiệp dưới sự kiểm soát của Toà án.

2. Thủ tục phục hồi

Thủ tục phục hồi bao gồm: (a) Tổ chức lại công ty (tái thiết công ty), (b) Phục hồi dân sự và (c) Sắp xếp công ty.

(a) Tổ chức lại công ty

Thủ tục này chỉ áp dụng cho những công ty lớn, công ty tài chính, bảo hiểm, ngân hàng. Mục tiêu của thủ tục này là bảo tồn giá trị của công ty với tư cách là một thực thể hoạt động và vẫn đảm bảo các quyền của các bên liên quan. Theo thủ tục này, hoạt động của công ty được quản lý và giám sát, các quyền của chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ được cân nhắc, điều chỉnh, các hoạt động kinh doanh được tiếp tục.

(b) Thủ tục phục hồi dân sự

Cũng tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, thủ tục phục hồi dân sự cũng nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục kinh doanh, tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ phục hồi kinh tế sau khi gặp khó khăn về tài chính chứ không phải là thanh toán nó.

Tuy nhiên, nếu thủ tục tổ chức lại công ty chỉ áp dụng cho những công ty lớn thì thủ tục phục hồi dân sự được áp dụng cho cả cá nhân kinh doanh và pháp nhân vừa và nhỏ. Pháp nhân không chỉ bao gồm các công ty kinh doanh mà còn bao gồm cả những pháp nhân công ích như trường học, bệnh viện… Thủ tục này cũng áp dụng cho các công ty lớn nếu họ lựa chọn thủ tục này.

Theo thủ tục này, doanh nghiệp mắc nợ chỉ cần đang ở tình trạng có khả năng sẽ không thể thanh toán nợ đến hạn là được quyền nộp đơn xin phục hồi dân sự.

Nhìn chung, thủ tục phục hồi dân sự tương tự như thủ tục tổ chức lại công ty, tuy nhiên có ba điểm khác biệt căn bản giữa thủ tục phục hồi dân sự và thủ tục tổ chức lại công ty:

- Ở thủ tục phục hồi dân sự, thành phần quản lý hiện tại của doanh nghiệp mắc nợ vẫn nắm quyền quản lý và kinh doanh; ở thủ tục tổ chức lại công ty thì bộ phận này được thay thế bằng một thành phần mới.

- Ở thủ tục tổ chức lại công ty, cổ đông hiện tại được coi như không còn nữa, còn ở thủ tục phục hồi dân sự thì vẫn giữ nguyên.

- Quyền bảo đảm của chủ nợ trên tài sản thế chấp của công ty ở thủ tục phục hồi dân sự không bị hạn chế, còn ở thủ tục tổ chức lại công ty thì bị đình chỉ.

Trong trường hợp chủ nợ có bảo đảm không đồng ý tạm thời dừng quyền của mình đối với tài sản thế chấp (ví dụ: chủ nợ có bảo đảm vẫn muốn bán nhà xưởng là tài sản thế chấp của người mắc nợ), thì doanh nghiệp mắc nợ không thể tiếp tục kinh doanh được nữa, do đó tùy theo quan hệ với chủ nợ mà công ty sẽ lựa chọn tái thiết công ty hoặc phục hồi dân sự.

(c) Thủ tục sắp xếp công ty

Thủ tục này về bản chất cũng là thủ tục phục hồi lại công ty nhưng được giải quyết ngoài Toà án. Thủ tục này tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng, nên cũng được nhiều công ty áp dụng. Đặc điểm căn bản của thủ tục này là phương án sắp xếp lại công ty cần phải được hội nghị chủ nợ thông qua, doanh nghiệp mắc nợ sẽ gặp từng chủ nợ để thỏa thuận việc sắp xếp lại công ty (hoãn nợ, mức trả nợ, cách thức trả nợ, bỏ bớt lĩnh vực kinh doanh không có lãi…). Trong thủ tục này, pháp luật có quy định cho phép sự can thiệp cần thiết của Toà án đối với những chủ nợ có bảo đảm nếu muốn bán tài sản thế chấp thì Toà án sẽ ra lệnh ngăn chặn. Tuy nhiên, sự can thiệp của Toà án là rất hạn chế.

Nguồn: Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu luật phá sản - Tập 1, Viện khoa học xét xử, TANDTC và NXB Tư Pháp, 2010

bài viết xem nhiều:


Tư vấn phá sản
Luật sư Đinh Xuân Hồng
---------------------------------
CÔNG TY HỢP DANH QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN SÀI GÒN
Trụ sở : 25 Vũ Tông Phan, P.An Phú, Quận 2, TP.HCM
Mobile: 0907.719.381   Website:phasan.com.vn
Email: saigoninsol@gmail.com  Diễn đàn:www.tranhluanphapluat.com

TAG: