Rắc rối chuyện kế thừa nghĩa vụ tố tụng của doanh nghiệp giải thể

Thân Trọng Lý – Phạm Thị Hà

Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định điều kiện và thủ tục giải thể doanh nghiệp chặt chẽ hơn Luật Doanh nghiệp 2005 song vẫn còn tồn tại nhiều bất cập về việc xác định (i) người kế thừa nghĩa vụ tố tụng của doanh nghiệp giải thể; và (ii) trách nhiệm của họ đối với nghĩa vụ của doanh nghiệp giải thể khi doanh nghiệp bị kiện tại tòa án.

Doanh nghiệp giải thể
Doanh nghiệp giải thể

Chúng ta cùng xem xét tình huống sau: “Sau khi được sở kế hoạch và đầu tư tỉnh X cho phép công ty cổ phần A giải thể, giám đốc là đại diện theo pháp luật, và các cổ đông trước đây của A bất ngờ bị tòa án triệu tập để làm việc theo đơn kiện của công ty B để yêu cầu A bồi thường do đã chấm dứt hợp đồng trước thời hạn”. Câu hỏi đặt ra là việc triệu tập này của tòa án có đúng không và nếu đúng thì trách nhiệm của những người này được xác định ra sao khi vụ kiện được giải quyết?

Tòa án có phải đình chỉ giải quyết vụ kiện?

Trước hết chúng ta cần xác định thời điểm giải thể của A. Theo quy định, nếu A giải thể hợp pháp trước ngày tòa án thụ lý vụ kiện thì tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ kiện vì không xác định được người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của A. Cụ thể, trong tình huống trên, do A đã giải thể trước ngày tòa án thụ lý nên tư cách pháp nhân của A đã bị chấm dứt kể từ thời điểm giải thểvà vì thế, không thể đáp ứng các điều kiện luật định để là đương sự trong một vụ kiện dân sự

Nếu A giải thể sau ngày tòa án thụ lý vụ kiện thì các cổ đông của A hoặc người đại diện của họ (người kế thừa) sẽ phải kế thừa nghĩa vụ tố tụng của A để tiếp tục tham gia vụ kiện tại tòa án theo giấy triệu tập cho đến khi giải quyết xong.

Trách nhiệm của cổ đông đến đâu?

Theo điều 157 Luật Doanh nghiệp 2005, A chỉ được giải thể sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ tài sản khác đối với các chủ nợ và Nhà nước. Do đó, nếu A chưa thanh toán hết nghĩa vụ mà vẫn được giải thể thì nhiều khả năng A đã giả mạo hồ sơ giải thể hoặc làm sai lệch thông tin để được giải thể nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Theo điều 2014, Luật Doanh nghiệp 2014, nếu có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về việc giải thể trái pháp luật của A thì giám đốc hoặc tổng giám đốc, thành viên hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của A phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản còn tồn đọng của A và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong vòng năm năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể. Khi đó, B có thể khởi kiện yêu cầu giám đốc, các thành viên hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của A phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại thực tế mà B phải gánh chịu do hành vi giải thể trái luật của A gây ra.

Nếu hồ sơ giải thể hợp pháp và A được giải thể sau khi tòa án thụ lý vụ kiện thì “người kế thừa” sẽ tham gia tố tụng thay cho A. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành lại không xác định rõ trách nhiệm của “người kế thừa” sẽ được phân định như thế nào nếu tòa án buộc A phải bồi thường cho B một số tiền. Liệu rằng họ có phải bỏ tài sản cá nhân của mình ra để bồi thường cho B thay cho A hay không vì A đã không còn tồn tại trên thực tế.

Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 và điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014, do A là công ty cổ phần nên các cổ đông của A chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của A trong phạm vi số vốn/cổ phần của họ đã góp vào A. Vì vậy, về mặt nguyên tắc, không thể buộc các cổ đông phải trả nợ thay cho A vượt quá phạm vi số vốn mà họ đã góp nếu A không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau khi giải thể. Hơn nữa, cũng không có quy định nào buộc những “người kế thừa” phải dùng tài sản cá nhân của họ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho B thay cho A theo bản án của tòa án. Điều này gây khó khăn cho tòa án trong quá trình giải quyết vụ kiện vì không biết phải xử như thế nào.

Chúng tôi thấy rằng Luật Doanh nghiệp 2014 đã hạn chế được một phần vướng mắc nêu trên sau khi bổ sung thêm điều kiện để giải thể bao gồm (i) doanh nghiệp đã thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản; và (ii) không thanh toán trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án hoặc trọng tài (điều 201.2). Theo đó, một khi doanh nghiệp đang là đương sự trong một vụ kiện thì doanh nghiệp đó sẽ không được phép giải thể cho đến khi vụ kiện được giải quyết xong và đã thanh toán hết các nghĩa vụ tài sản đối với Nhà nước và các chủ nợ.

Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào tòa án và cơ quan đăng ký kinh doanh cũng đồng thời biết được tình trạng hoạt động của doanh nghiệp một cách kịp thời để xử lý theo đúng quy định này. Vì vậy, vẫn có khả năng xảy ra trường hợp doanh nghiệp vẫn được giải thể trong thời gian đang tham gia tố tụng và với quy định của pháp luật hiện hành thì tòa án vẫn chưa thể phân định trách nhiệm của “người kế thừa” đối với nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp giải thể.

Do đó, trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền nên có hướng dẫn cụ thể để xác định rõ hơn trách nhiệm của “người kế thừa” theo hướng nếu doanh nghiệp không còn tài sản để chia lại cho các cổ đông hoặc thành viên sau khi giải thể hợp pháp thì họ sẽ không có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thay cho doanh nghiệp giải thể. Ngược lại, nếu doanh nghiệp vẫn còn tài sản thì nghĩa vụ của “người kế thừa” cũng chỉ giới hạn trong phần tài sản được nhận từ doanh nghiệp.

Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi cho mình và tránh các rủi ro nêu trên, các doanh nghiệp nên thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của đối tác và cần thông báo cho cơ quan đăng ký doanh nghiệp có thẩm quyền trong thời gian sớm nhất về tranh chấp của các bên để tránh việc đối tác của mình lén lút làm thủ tục giải thể. Khi đó, khả năng đòi được khoản nợ sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn


CÔNG TY HỢP DANH QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN SÀI GÒN (SGI)

Trụ sở: 16 Nguyễn Quý Cảnh, phường An Phú, quận 2, TP.HCM

Hotline: 1900 252 503 (Nhánh số 3)

Website: http://tuvanphasan.vn/http://phasan.com.vn/http://tuvanphasan.com/

Email: [email protected]  

Facebook: https://www.facebook.com/quantaivienSaigon

Trả lời