Khái quát về pháp luật phá sản trên thế giới

Để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia chú trọng. Ngay từ giai đoạn đầu trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã ban hành Luật Phá sản dựa trên những kinh nghiệm xây dựng pháp luật phá sản của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Khái quát về pháp luật phá sản trên thế giới
Khái quát về pháp luật phá sản trên thế giới

Từ thực tiễn đã hình thành những thủ tục giải quyết tình trạng làm ăn thua lỗ, thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo của thị trường và khi cần thiết thì có sự điều chỉnh, can thiệp của nhà nước. Trên thế giới, người ta phân biệt hai thủ tục giải quyết phá sản, bao gồm thủ tục chính thức và thủ tục không chính thức:

1. Những thủ tục không chính thức

Thủ tục phá sản không chính thức là thủ tục giải quyết tình trạng phá sản không có sự can thiệp của Toà án mà dựa trên sự thoả thuận tự nguyện giữa người mắc nợ và chủ nợ. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động cũng thường áp dụng các thủ tục này. Thủ tục này đơn giản, mềm dẻo và thường đạt hiệu quả cao. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn tố tụng dân sự ở nước ta quá trình này thường được gọi là thủ tục tiền tố tụng.

Thủ tục này được hình thành vào những năm 80 của thế kỷ XIX, ban đầu tại một số nước như Anh và Hoa Kỳ. Đây được coi là giải pháp tích cực thay thế hoặc hỗ trợ cho thủ tục phá sản chính thức. Tuy hình thành với tư cách là thủ tục phá sản không chính thức nhưng dần dần thủ tục này đã được thừa nhận và chiếm một vị trí xứng đáng bằng việc được quy định trong pháp luật về phá sản của một số nước (như Luật Phá sản của Hoa kỳ).

Do thủ tục này đơn giản nhưng đạt hiệu quả cao trong thực tiễn nên nhiều nước khuyến khích áp dụng và đã có ý kiến khuyến nghị nên xây dựng một Nghị định thư cho việc áp dụng chung trên toàn thế giới mặc dù thủ tục này vẫn chỉ là thủ tục tự nguyện. Dần dần, thủ tục này đã được đưa vào áp dụng tại một số nước như Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan…

Sự tồn tại và phát triển của thủ tục không chính thức cho thấy, dù các chế định phục hồi chính thức “hiện đại” và phát triển song vẫn không thích hợp cho nhiệm vụ phục hồi. Tính linh hoạt và ít cứng nhắc hơn của thủ tục không chính thức dường như đáp ứng được nhu cầu giải quyết phá sản trên thực tiễn.

Những điều kiện để áp dụng thủ tục không chính thức là:

– Thực tế công ty nợ một khoản nợ lớn từ một số ngân hàng hoặc các chủ nợ là các cơ quan tài chính khác và ở thời điểm hiện tại người mắc nợ thiếu khả năng thanh toán các khoản nợ này;

– Có điều kiện thích hợp để thỏa thuận một sự sắp xếp đối với những khó khăn tài chính của công ty mắc nợ, giữa công ty mắc nợ với các nhà tài chính và giữa các nhà tài chính với nhau;

– Có thể lựa chọn những kỹ thuật tái đầu tư tài chính phức tạp và các kỹ thuật thương mại khác thay thế, sắp xếp lại hoặc cấu trúc lại các món nợ của công ty mắc nợ hoặc đối với chính bản thân công ty mắc nợ;

– Trong tương lai, công ty mắc nợ sẽ có lợi nhuận cao hơn thông qua quá trình đàm phán so với việc sử dụng trực tiếp và ngay lập tức quy chế phá sản;

– Có cơ chế ràng buộc trách nhiệm là nếu quá trình đàm phán không thể bắt đầu lại được hoặc đổ vỡ giữa chừng thì sẽ có một cơ chế chuyển đổi riêng biệt sang thủ tục phá sản và cũng như có những nguồn lực hiệu quả để áp dụng Luật Phá sản. Yếu tố này là động lực để chủ nợ và người mắc nợ cùng nhau bàn bạc.

Để đạt được hiệu quả, quá trình giải quyết phá sản theo thủ tục không chính thức cũng cần có một số kỹ năng và thủ tục. Những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình này là:

– Thiết lập nên một “diễn đàn” để các chủ nợ và người mắc nợ có thể cùng nhau tìm kiếm và thảo luận về một sự sắp xếp nhằm giải quyết những khó khăn về tài chính;

– Chỉ định một chủ nợ “lãnh đạo” để tổ chức, quản lý quá trình giải quyết;

– Chọn một hội đồng đại diện cho chủ nợ để giúp chủ nợ và hành động như là một thiết chế có tiếng nói chung tạm thời đối với những đề nghị dành cho người mắc nợ;

– Một thỏa thuận “tạm dừng” (một thỏa thuận dừng tất cả những vụ kiện có hại của cả chủ nợ và người mắc nợ) trong một khoảng thời gian xác định, thường là tương đối ngắn. Thỏa thuận tạm dừng này có thể được so sánh với “lệnh dừng” hoặc tạm đình chỉ các vụ kiện hoặc các thủ tục tố tụng, yếu tố đã trở thành một đặc điểm quan trọng của thủ tục phục hồi chính thức trong pháp luật phá sản;

– Thu thập và cung cấp những thông tin hoàn chỉnh và đầy đủ liên quan đến người mắc nợ, bao gồm những hoạt động kinh doanh của người mắc nợ, địa vị thương mại hiện tại, tình trạng tài chính chung, tài sản và các nghĩa vụ.

Nhìn chung, thủ tục không chính thức là một thủ tục tự nguyện dựa trên hoàn cảnh thực của doanh nghiệp, thường là một doanh nghiệp có uy tín, kinh doanh mặt hàng đang có nhu cầu và ngày càng có nhu cầu lớn trong xã hội, nhưng vì những lý do chủ quan cũng như khách quan mà doanh nghiệp này lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, doanh nghiệp này sẽ phát triển tốt nếu cải tiến lại quy trình hoặc cơ cấu lại sản phẩm đầu ra. Giữa chủ nợ và doanh nghiệp cùng bàn bạc với nhau đề xuất ra những giải pháp khắc phục: cơ cấu lại sản phẩm, chủ nợ sẽ đầu tư thêm hoặc kêu gọi đối tác của chủ nợ đầu tư, thay đổi cách quản lý, người quản lý… tìm giải pháp thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và họ nhìn thấy tương lai thu lợi nhuận, có lãi từ sự hợp tác này. Khi các bên nhận thấy khả năng tìm được hướng ra nhằm thoát khỏi tình trạng này, họ sẽ thoả thuận được với nhau cách tiến hành, quá trình khắc phục hậu quả của việc mất khả năng thanh toán, trường hợp xấu nhất thì sẽ đi đến thanh toán tài sản của doanh nghiệp.

Như vậy, dù đây là thủ tục không chính thức nhưng hậu quả của nó cũng tương tự như thủ tục giải quyết phá sản tại Toà án: nếu phục hồi thành công thì doanh nghiệp, hợp tác xã không còn lâm vào tình trạng phá sản, nếu không thành công thì doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố phá sản.

2. Những thủ tục chính thức

Thủ tục chính thức là những thủ tục giải quyết tình trạng phá sản được điều chỉnh bằng pháp luật và thông qua Toà án. Các thủ tục này có những tên gọi khác nhau, nhưng bản chất đó là hai loại thủ tục chính: Thủ tục thanh toán (phá sản, thanh toán, thanh lý tài sản và các khoản nợ); Thủ tục phục hồi (cam kết, thoả thuận, tổ chức lại).

a. Thủ tục thanh toán

Thanh toán theo nghĩa chung truyền thống nhất là bán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ để thanh toán cho các chủ nợ và chấm dứt hoạt động của người mắc nợ. Thủ tục này tương đối phổ biến và thường có cấu trúc như sau:

Chủ nợ hoặc thương nhân mắc nợ nộp đơn đến Toà án yêu cầu tuyên bố phá sản;

– Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ;

– Toà án chỉ định một người độc lập quản lý tài sản và thực hiện việc thanh toán;

– Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ; chấm dứt quyền của giám đốc và việc thuê lao động;

– Bán tài sản của doanh nghiệp;

– Phân chia tiền thu được từ việc bán tài sản của doanh nghiệp cho các chủ nợ;

– Giải thể doanh nghiệp.

Thủ tục thanh toán được xây dựng trên quan điểm: trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, một doanh nghiệp không thể cạnh tranh sẽ mất vị trí và phải rời khỏi thị trường. Dấu hiệu cơ bản để xác định doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh là dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Để giải quyết việc phá sản của doanh nghiệp này một cách lành mạnh, đảm bảo quyền, lợi ích của tất cả các chủ thể liên quan thì thủ tục đó phải mang tính tập thể và tính chất dân sự, các chủ nợ bị ràng buộc và được đối xử công bằng.

b. Thủ tục phục hồi

Mục đích của thủ tục phục hồi là việc tiếp tục kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ. Thủ tục này có thể được thực hiện dưới dạng một “cam kết”, thông qua đó người mắc nợ và các chủ nợ thỏa thuận về việc giảm nợ để tạo điều kiện cho tổng số nợ của người mắc nợ giảm xuống, doanh nghiệp không còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nữa và có thể tiếp tục kinh doanh. Thủ tục này cũng có thể được thực hiện dưới dạng một quá trình “tổ chức lại” rất phức tạp. Ví dụ: Các khoản nợ của doanh nghiệp được sắp xếp lại (gia hạn, hoãn trả lãi, thay đổi chủ nợ); chuyển khoản nợ thành cổ phần, bán một số tài sản không thiết yếu; chấm dứt hoạt động kinh doanh không có lợi nhuận.

Thủ tục phục hồi rất đa dạng, thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau và không được áp dụng phổ biến như thủ tục thanh toán. Tuy nhiên, có thể nêu lên cấu trúc cơ bản của thủ tục phục hồi như sau:

– Doanh nghiệp tự nguyện áp dụng thủ tục này;

– Phải bắt buộc chấm dứt hoặc đình chỉ những vụ kiện đòi tài sản doanh nghiệp của bất kỳ chủ nợ nào;

– Doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh có thể vẫn dưới sự điều hành của ban quản lý hiện tại hoặc của một ban quản lý độc lập hoặc kết hợp cả hai hình thức đó;

– Xây dựng kế hoạch phục hồi;

– Các chủ nợ xem xét bỏ phiếu chấp thuận kế hoạch phục hồi;

– Thực hiện kế hoạch phục hồi.

Thủ tục phục hồi được xây dựng trên quan điểm: không phải mọi doanh nghiệp thất bại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh đều phải bị thanh toán ngay. Nếu một doanh nghiệp có khả năng phục hồi hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh có lợi nhuận và có khả năng đem lại lợi nhuận thì phải có cơ hội để phục hồi. Việc phục hồi một doanh nghiệp nhằm mục đích là các chủ nợ sẽ nhận được lợi ích lâu dài hơn, nhiều hơn khi doanh nghiệp bị thanh toán ngay.

Nguồn: Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu luật phá sản – Tập 1, Viện khoa học xét xử, TANDTC và NXB Tư Pháp, 2010


CÔNG TY HỢP DANH QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN SÀI GÒN (SGI)

Trụ sở: 16 Nguyễn Quý Cảnh, phường An Phú, quận 2, TP.HCM

Hotline: 1900 252 503 (Nhánh số 3)

Website: http://tuvanphasan.vn/http://phasan.com.vn/http://tuvanphasan.com/

Email: [email protected]  

Facebook: https://www.facebook.com/quantaivienSaigon

Trả lời